Vàng 24k là vàng tây hay vàng ta?

09:03 10/05/2018

Vàng 24k là vàng ta hay còn gọi là vàng 999,9 vì có hàm lượng vàng nguyên chất đạt độ K cao nhất là 24, tỉ lệ vàng nguyên chất chiếm 999,9%. Vàng tây là loại vàng thấp tuổi hơn và có hàm lượng vàng dưới 999.9%, có các loại vàng tây 21k, 18k, 14k, 10 và 9k. Tùy vào từng tuổi vàng mà hàm lượng vàng chiếm % tương ứng.

Vàng 24k là vàng ta 9999

Vàng 24k là vàng có độ tinh khiết cao nhất, với tỉ lệ vàng nguyên chất chiếm 99,99% và là loại vàng có giá trị nhất, hơn hẳn các loại vàng 21k, 18k, 14k, 10k hay 9k. Vàng 24k còn được gọi là vàng ròng. Theo chuẩn quốc tế về tuổi vàng được tính theo độ K – Kara (người việt thường dùng chữ Cara), với mỗi Kara vàng tương đương với 1/24 vàng nguyên chất.

Vàng 24k thường được biết đến dạng thỏi, miếng hoặc vàng nhẫn tròn trơn mua để đầu tư hoặc một số ít là vòng tay, dây chuyền, hoa tai với hàm lượng vàng được công bố là 999, 99,99%, 999,9%, 99% hay thậm chí là 98% vàng nguyên chất.

Giá vàng 24k hôm nay tại Cần Thơ

Vàng 24k có tác dụng gì?

Theo Wikipedia Vàng có công dụng rất nhiều trong các lĩnh vực quan trọng như y tế, thực phẩm, kỹ thuật..v..v…

Ứng dụng của vàng trong công nghiệp

Vàng có thể được sản xuất mỏng tới mức nó dường như trong suốt. Nó được dùng trong một số cửa sổ buồng lái máy bay để làm tan băng hay chống đóng băng bằng cách cho một dòng điện chạy qua đó. Nhiệt tạo ra bởi kháng trở của vàng đủ để khiến băng không thể hình thành.

Ô tô có thể sử dụng vàng để tản nhiệt. McLaren sử dụng vàng lá trong khoang động cơ model F1 của mình.

Vàng được dùng như lớp phản xạ trên một số đĩa CD công nghệ cao.

Bởi vàng là một chất phản xạ tốt với bức xạ điện từ như hồng ngoại và ánh sáng nhìn thấy được cũng như các sóng radio, nó được dùng làm lớp phủ bảo vệ cho nhiều vệ tinh nhân tạo, trong các tấm bảo vệ nhiệt hồng ngoại và mũ của các nhà du hành vũ trụ và trên các máy bay chiến tranh điện tử như EA-6B Prowler.

Trong nhiếp ảnh, các chất liệu màu bằng vàng được dùng để chuyển đổi màu của các điểm trắng và đen trên giấy ảnh thành màu xám và xanh, hay để tăng sự ổn định của chúng. Được dùng trong in tông nâu đỏ, chất màu vàng tạo ra các tông đỏ. Kodak đã công bố các công thức cho nhiều kiểu tông màu từ vàng, trong đó sử dụng vàng như một loại muối clorua.[17]

Vàng tạo màu đỏ sâu khi được dùng làm tác nhân màu trong sản xuất thủy tinh nam việt quất (hay thủy tinh rubi vàng).

Vàng mềm và có thể uốn, có nghĩa nó có thể được chế tạo thành sợi dây rất mỏng và có thể được dát thành tấm rất mỏng gọi là lá vàng.

Vàng có thể được chế tạo thành sợi chỉ và được dùng trong thêu thùa.

Hàn vàng được dùng để gắn kết các thành phần vàng trang sức bằng hàn cứng nhiệt độ cao hay hàn vảy cứng. Nếu tác phẩm nghệ thuật đòi hỏi dấu xác nhận tiêu chuẩn chất lượng, tuổi của vàng hàn phải trùng khớp với tuổi vàng của tác phẩm, và công thức hợp kim hầu hết được chế tạo theo tiêu chuẩn tuổi vàng công nghiệp để màu sắc phù hợp với vàng vàng và vàng trắng. Hàn vàng thường được thực hiện ở ít nhất ba khoảng nhiệt độ nóng chảy được gọi là Dễ, Trung bình và Khó. Bằng cách đầu tiên sử dụng vàng hàn khó có điểm nóng chảy cao, sau đó là các loại vàng hàn có điểm nóng chảy thấp dần, thợ vàng có thể lắp ráp các đồ vật phức tạp với nhiều điểm hàn tách biệt.

vàng trong thực phẩm

Goldwasser (nước vàng) là một đồ uống thảo mộc truyền thống được sản xuất tại Gdańsk, Ba Lan, và Schwabach, Đức, và có chứa những bông vàng lá. Cũng có một số loại cocktail đắt giá (~$1.000) có chứa bông vàng lá. Tuy nhiên, bởi vàng kim loại trơ với mọi chất hoá học trong cơ thể, nó không mang lại hương vị cũng không có hiệu quả dinh dưỡng nào và không làm thay đổi gì cho cơ thể.

Vàng lá, bông hay bụi được dùng trên và trong một số thực phẩm cho người sành ăn, đáng chú ý nhất là các đồ bánh kẹo và đồ uống như thành phần trang trí. Vàng lá đã được giới quý tộc thời châu Âu Trung Cổ sử dụng như một thứ đồ trang trí cho thực phẩm và đồ uống, dưới dạng lá, bông hay bụi, hoặc để thể hiện sự giàu có của chủ nhà hay với niềm tin rằng một thứ có giá trị và hiếm sẽ có lợi cho sức khoẻ con người. Lá vàng và bạc thỉnh thoảng được dùng trong các đồ bánh kẹo ở Nam Á như barfi.

Vàng có thể được sử dụng trong thực phẩm và có số E 175.

Ứng dụng của vàng trong y học

Đồng vị vàng-198, (bán rã 2,7 ngày) được dùng trong một số phương pháp điều trị ung thư và để điều trị một số loại bệnh.

Vàng, hay các hợp kim của vàng và paladi, được áp dụng làm lớp dẫn cho các mẫu sinh học và các vật liệu phi dẫn khác như nhựa dẻo tổng hợp và thủy tinh để được quan sát trong một kính hiển vi electron quét. Lớp phủ, thường được tạo bởi cách phun tia bằng một luồng plasma agon, có ba vai trò theo cách ứng dụng này. Tính dẫn điện rất cao của vàng dẫn điện tích xuống đất, và mật độ rất cao của nó cung cấp năng lượng chặn cho các electron trong chùm electron, giúp hạn chế chiều sâu chùm electron xâm nhập vào trong mẫu. Điều này cải thiện độ nét của điểm và địa hình bề mặt mẫu và tăng độ phân giải không gian của hình ảnh. Vàng cũng tạo ra một hiệu suất cao của các electron thứ hai khi bị bức xạ bởi một chùm electron, và các electron năng lượng thấp đó thường được dùng làm nguồn tín hiệu trong kính hiển vi quét electron.

Sự pha chế vàng keo (chất lỏng gồm các phân tử nano vàng) trong nước có màu rất đỏ, và có thể được thực hiện với việc kiểm soát kích cỡ các phân tử lên tới một vài phần chục nghìn nanomét bằng cách giảm vàng clorua với các ion citrat hay ascorbat. Vàng keo được sử dụng trong nghiên cứu y khoa, sinh học và khoa học vật liệu.

Kỹ thuật miễn dịch vàng (immunogold) khai thác khả năng của các phần tử vàng hấp thụ các phân tử protein lên các bên mặt của chúng. Các phần tử vàng keo được bao phủ với các kháng thể riêng biệt có thể được dùng để phát hiện sự hiện diện và vị trí của các kháng nguyên trên bề mặt của tế bào. Trong các phần siêu mỏng của mô được quan sát bởi kính hiển vi electron, các đoạn immunogold xuất hiện với mật độ cực lớn bao quanh các điểm ở vị trí của kháng thể. Vàng keo cũng là hình thức vàng được sử dụng như sơn vàng trong ngành gốm sứ trước khi nung.

Các hợp kim vàng đã được sử dụng trong việc phục hồi nha khoa, đặc biệt là răng, như thân răng và cầu răng vĩnh viễn. Tính dễ uốn của các hợp kim vàng tạo điều kiện thuận lợi cho việc tạo bề mặt kết nối răng và có được các kết quả nói chung tốt hơn các loại khác làm bằng sứ. Việc sử dụng thân răng vàng với các răng có số lượng nhiều như răng cửa đã được ưa chuộng ở một số nền văn hoá nhưng lại không được khuyến khích ở các nền văn hoá khác.

Thời Trung Cổ, vàng thường được xem là chất có lợi cho sức khoẻ, với niềm tin rằng một thứ hiếm và đẹp phải là thứ tốt cho sức khoẻ. Thậm chí một số người theo chủ nghĩa bí truyền và một số hình thức y tế thay thế khác coi kim loại vàng có sức mạnh với sức khoẻ. Một số loại muối thực sự có tính chất chống viêm và đang được sử dụng trong y tế để điều trị chứng viêm khớp và các loại bệnh tương tự khác. Tuy nhiên, chỉ các muối và đồng vị của vàng mới có giá trị y tế, còn khi là nguyên tố (kim loại) vàng trơ với mọi hoá chất nó gặp trong cơ thể. Ở thời hiện đại, tiêm vàng đã được chứng minh là giúp làm giảm đau và sưng do thấp khớp và lao.

Trong công nghiệp chế tác nữ trang

Vì tính mềm của vàng nguyên chất (24k), nó thường được pha trộn với các kim loại căn bản khác để sử dụng trong công nghiệp nữ trang, làm biến đổi độ cứng và tính mềm, điểm nóng chảy, màu sắc và các đặc tính khác. Các hợp kim với độ cara thấp, thường là 22k, 18k, 14k hay 10k, có chứa nhiều đồng, hay các kim loại cơ bản khác, hay bạc hoặc paladi hơn trong hỗn hợp. Đồng là kim loại cơ sở thường được dùng nhất, khiến vàng có màu đỏ hơn.

Vàng 18k chứa 25% đồng đã xuất hiện ở đồ trang sức thời cổ đại và đồ trang sức Nga và có kiểu đúc đồng riêng biệt, dù không phải là đa số, tạo ra vàng hồng. Hợp kim vàng-đồng 14k có màu sắc gần giống một số hợp kim đồng, và cả hai đều có thể được dùng để chế tạo các biểu trưng cho cảnh sát và các ngành khác. Vàng xanh có thể được chế tạo bởi một hợp kim với sắt và vàng tía có thể làm bằng một hợp kim với nhôm, dù hiếm khi được thực hiện trừ khi trong trường hợp đồ trang sức đặc biệt. Vàng xanh giòn hơn và vì thế khó chế tác hơn trong ngành trang sức.

Các hợp kim vàng 18 và 14 carat chỉ pha trộn với bạc có màu xanh-vàng nhất và thường được gọi là vàng xanh. Các hợp kim vàng trắng có thể được làm với paladi hay niken. Vàng trắng 18 carat chứa 17,3% niken, 5,5% kẽm và 2,2% đồng có màu bạc. Tuy nhiên, niken là chất độc, và độ giải phóng của nó bị luật pháp quản lý ở châu Âu.

Các loại hợp kim vàng trắng khác cũng có thể thực hiện với paladi, bạc và các kim loại trắng khác, nhưng các hợp kim paladi đắt hơn các hợp kim dùng niken. Các hợp kim vàng trắng có độ nguyên chất cao có khả năng chống ăn mòn hơn cả bạc nguyên chất hay bạc sterling. Hội tam điểm Nhật Mokume-gane đã lợi dụng sự tương phản màu sắc giữa màu sắc các hợp kim vàng khi dát mỏng để tạo ra các hiệu ứng kiểu thớ gỗ.

Giá trị đầu tư

Các thỏi vàng hiện đại cho mục đích đầu tư hay cất trữ không yêu cầu các tính chất cơ khí tốt; chúng thường là vàng nguyên chất 24k, dù American Gold Eagle của Mỹ, gold sovereign của Anh, và Krugerrand của Nam Phi tiếp tục được đúc theo chất lượng 22k theo truyền thống. Đồng xu Canadian Gold Maple Leaf phát hành đặc biệt có chứa lượng vàng nguyên chất cao nhất so với bất kỳ thỏi vàng nào, ở mức 99,999% hay 0,99999, trong khi đồng xu Canadian Gold Maple Leaf phát hành phổ thông có độ nguyên chất 99,99%. Nhiều đồng xu vàng nguyên chất 99,99% khác cũng có trên thị trường. Australian Gold Kangaroos lần đầu tiên được đúc năm 1986 như là Australian Gold Nugget nhưng đã thay đổi thiết kế mặt trái vào năm 1989. Ngoài ra, có nhiều đồng xu thuộc loạt Australian Lunar Calendar và Austrian Philharmonic. Năm 2006, Sở đúc tiền Hoa Kỳ bắt đầu sản xuất đồng xu vàng American Buffalo với độ nguyên chất 99,99%.

Nhiều người sở hữu vàng và giữ chúng dưới hình thức các thỏi nén hay thanh như một công cụ chống lại lạm phát hay những đợt khủng hoảng kinh tế. Tuy nhiên, một số nhà kinh tế không tin việc giữ vàng là một công cụ chống lạm phát hay mất giá tiền tệ.

Mã tiền tệ ISO 4217 của vàng là XAU.

Vàng đã được sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới như một phương tiện chuyển đổi tiền tệ, hoặc bằng cách phát hành và công nhận các đồng xu vàng hay các số lượng kim loại khác, hay thông qua các công cụ tiền giấy có thể quy đổi thành vàng bằng cách lập ra bản vị vàng theo đó tổng giá trị tiền được phát hành được đại diện bởi một lượng vàng dự trữ.

Tuy nhiên, số lượng vàng trên thế giới là hữu hạn và việc sản xuất không gia tăng so với nền kinh tế thế giới. Ngày nay, sản lượng khai thác vàng đang sụt giảm. Với sự tăng trưởng mạnh của các nền kinh tế trong thế kỷ XX, và sự gia tăng trao đổi quốc tế, dự trữ vàng thế giới và thị trường của nó đã trở thành một nhánh nhỏ của toàn bộ các thị trường và các tỷ lệ trao đổi tiền tệ cố định với vàng đã trở nên không thể duy trì.

Ở đầu Thế chiến I các quốc gia tham gia chiến tranh đã chuyển sang một bản vị vàng nhỏ, gây lạm phát cho đồng tiền tệ của mình để có tiền phục vụ chiến tranh. Sau Thế chiến II vàng bị thay thế bởi một hệ thống tiền tệ có thể chuyển đổi theo hệ thống Bretton Woods. Bản vị vàng và tính chuyển đổi trực tiếp của các đồng tiền sang vàng đã bị các chính phủ trên thế giới huỷ bỏ, bị thay thế bằng tiền giấy. Thụy Sĩ là quốc gia cuối cùng gắn đồng tiền của mình với vàng; vàng hỗ trợ 40% giá trị của tiền cho tới khi Thụy Sĩ gia nhập Quỹ Tiền tệ Quốc tế năm 1999.

Những quốc gai tiêu thụ vàng nhiều nhất thế giới

Quốc gia
2009 2010 2011 2012 2013
 Ấn Độ 442,37 745,70 986,3 864 974
 Trung Quốc 376,96 428,00 921,5 817,5 1.120,1
 Hoa Kỳ 150,28 128,61 199,5 161 190
 Thổ Nhĩ Kỳ 75,16 74,07 143 118 175,2
A rập xê út 77,75 72,95 69,1 58,5 72,2
 Nga
60,12 67,50 76,7 81,9 73,3
 Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất 67,60 63,37 60,9 58,1 77,1
 Ai Cập 56,68 53,43 36 47,8 57,3
 Indonesia 41,00 32,75 55 52,3 68
 Vương quốc Anh 31,75 27,35 22,6 21,1 23,4
Các quốc gia khác vùng vịnh Ba Tư
24,10 21,97 22 19,9 24,6
 Nhật Bản 21,85 18,50 −30,1 7,6 21,3
 Hàn Quốc 18,83 15,87 15,5 12,1 17,5
 Việt Nam 15,08 14,36 100,8 77 92,2
 Thái Lan 7,33 6,28 107,4 80,9 140,1

Tham khảo thêm: Những nước dự trữ vàng nhiều nhất thế giới hiện nay

Comments

comments

1 / Giáo sư Hồ Ngọc Đại: nhà cải cách giáo dục & là tác giả Công nghệ giáo dục mới

HỒ NGỌC ĐẠI là tác giả sách Công nghệ giáo dục gây tranh cãi 2018. Tiểu sử Giáo sư Hồ Ngọc Đại sinh ngày 3 tháng 4 năm 1936, năm nay 82 tuổi. Tiểu sử giáo sử Hồ Ngọc Đại Theo Wikipedia giới thiệu về tiểu sử giáo sư Hồ Ngọc Đại ông là người có hoạt động về giáo dục & đào tạo theo hướng mới từ rất sớm - năm 1976. Hồ Ngọc Đại sinh vào ngày 03 tháng 04 năm 1936. Quê quán được wiki chia sẽ cho thấy ông được sinh ra ở Quảng Trị. tính đến năm 2018 ông đã 82 tuổi và vẫn còn hoạt động về nghiên cứu - cải tiến giáo dục. GS Hồ Ngọc Đại được xem là một trong những cây đa cây đề về cải cách giáo dục tại Việt Nam từ những năm 1970 đến nay. [caption id="attachment_9574"...

2 / Những loại cây mang lại tài lộc & sức khỏe nên trồng trong nhà

Loại cây mang lại tài lộc: Lan Ý, Cây thường xuân, Trúc Mây, Dương Xỉ Mỹ, Lưỡi Hổ, Ngọc Bích, Dây Nhện, Đa Búp Đỏ, Cọ Lá Tre, Kim Phát Tài, Vạn Niên Thành. Tùy từng loại người trồng có thể chọn để hợp theo phong thủy của ngôi nhà, cách bố trí trong từng phòng sẽ có sự phối hợp tốt nhất với các vật dụng khác. Loại cây mang lại tài lộc Bạch Mã Hoàng Tử Vạn Niên Thành Kim Phát Tài Cọ Lá Tre Đa Búp Đỏ Dây Nhện Ngọc Bích Lưỡi Hổ Dương Xỉ Mỹ Trúc Mây Cây thường xuân Lan Ý Ý nghĩa của cây Bạch Mã Hoàng Tử Tác dụng Ý nghĩa của cây Vạn Niên Thành Ý nghĩa của cây Kim Phát Tài Ý nghĩa của cây Cọ Lá Tre Ý nghĩa của cây Đa Búp Đỏ Ý nghĩa của cây...

3 / Giá xăng dầu hôm nay điều chỉnh tăng vào lúc 15h ngày 23/5/2018

Cập nhật GIÁ XĂNG DẦU HÔM nay trong nước và tình hinh gia xang dau hom nay trên thế giới mới nhất chiều nay của bộ công thương. Từ 15h chiều nay Giá xăng E5 sẽ tăng thêm 500 đồng/lít, còn xăng 95 là 600 đồng, dầu diesel 0.05S tăng 587 đồng/lít; dầu hỏa tăng 523 đồng/lít; dầu mazut 180CST 3.5S tăng 678 đồng/kg. Giá xăng dầu hôm nay 8/5 Giá xăng E5 sẽ tăng thêm 500 đồng/lít, còn xăng 95 là 600 đồng. Giá dầu cũng đồng loạt tăng lên từ 15h chiều nay, 23-5. Cụ thể, theo thông báo của Liên bộ Công thương - Tài chính giá dầu diesel 0.05S tăng 587 đồng/lít; dầu hỏa tăng 523 đồng/lít; dầu mazut 180CST 3.5S tăng 678 đồng/kg. Liên bộ Công thương - Tài chính quyết định giữ nguyên trích lập Quỹ Bình ổn giá xăng...

4 / Giá vàng hôm nay 11/5: Mỹ gây thất vọng, vàng tăng vọt

Giá vàng hôm nay 11/5 trên thế giới tăng nhanh do đồng USD giảm khá mạnh từ đỉnh cao 4 tháng rưỡi sau khi nước Mỹ công bố một chỉ số kinh tế thấp hơn so với dự báo của các chuyên gia. Giá vàng hôm nay 11/5 Tới đầu giờ sáng 11/5 (giờ Việt Nam), giá vàng thế giới giao ngay đứng ở mức 1.321 USD/ounce. Giá vàng giao tháng 6 trên sàn Comex New York đứng ở mức 1.323 USD/ounce. Hiện giá vàng cao hơn 1,4% (18,5 USD/ounce) so với cuối năm 2017. Vàng thế giới quy đổi theo giá USD ngân hàng có giá 36,6 triệu đồng/lượng, chưa tính thuế và phí, thấp hơn khoảng 150 ngàn đồng/lượng so với vàng trong nước. Giá vàng thế giới tăng nhanh do đồng USD giảm khá mạnh từ đỉnh cao 4 tháng rưỡi sau khi nước Mỹ...

5 / Tỷ giá ngoại tệ hôm nay 11/5

Tỷ giá ngoại tệ ngày 11/5 diễn biến theo xu hướng đồng USD trên thị trường quốc tế quay đầu giảm nhanh sau những diễn biến bất ngờ trên thị trường Mỹ. Tỷ giá ngoại tệ hôm nay 11/5 Đầu phiên giao dịch ngày 11/5 (giờ Việt Nam), trên thị trường thế giới, chỉ số US Dollar Index (DXY), đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) đứng ở mức 92,61 điểm. USD đứng ở mức: 1 euro đổi 1,1916 USD; 109,54 yen đổi 1 USD và 1,3521 USD đổi 1 bảng Anh. Đêm qua, đồng USD trên thị trường quốc tế quay đầu giảm nhanh sau những diễn biến bất ngờ trên thị trường Mỹ. Giới đầu tư cũng lo ngại về triển vọng dài hạn của đồng bạc xanh sau những quyết định...

Shares