Xem ngay
sale image

Giới thiệu về phương pháp Elliott Wave

20:12 07/08/2020

Ralph Nelson Elliott đã phát triển phương pháp Elliott Wave vào năm 1930. Elliott cho rằng thị trường chứng khoán không hoàn toàn biến động theo cách ngẫu nhiên và hỗn loạn, trong thực tế các mô hình giá trong thị trường thường lặp lại. Trong bài viết này chúng ta sẽ xem xét lịch sử đằng sau phương pháp Elliott Wave và cách nó áp dụng trong phương pháp giao dịch thực tế.

Nội dung

  • Sóng (Wave)
  • Dự đoán thị trường dựa trên mô hình sóng
  • Giải thích phương pháp Elliott Wave
  • Cấp độ sóng (Wave Degree)
  • Lý thuyết Elliott Wave
  • Điểm mấu chốt

Sóng (Wave)

Elliott cho rằng xu hướng giá trong thị trường xuất phát từ tâm lý của các nhà đầu tư. Ông phát hiện ra rằng sự giao động trong tâm lý học lại luôn xuất hiện trong các mô hình giá định kỳ hay các cơn “sóng” giá di chuyển trong thị trường tài chính.

Lý thuyết Elliott có phần giống với lý Dow, khi cả hai đều nhận ra thị trường thường di chuyển theo những con sóng. Tuy nhiên Elliott đã nhận ra tính lặp lại của các mẫu hình trên thị trường tài chính, mô hình Elliott Wave là các cấu trúc giá và có xu hướng lặp lại chính nó. Elliott phát hiện ra giá của các chỉ số chứng khoán thường lặp lại theo cùng một cách. Sau đó ông xem xét làm sao các mô hình này lại lặp lại và cách áp dụng chúng để dự đoán giá trong tương lai.

Dự đoán thị trường dựa trên mô hình sóng

Elliott đã đưa ra dự đoán về thị trường chứng khoán dựa trên những điều mà ông đã khám ra về mô hình sóng. Một sóng kích thích (Impulse wave) sẽ bắt đầu và đi cùng với xu hướng lớn hơn, theo quy luật thì sóng kích kích sẽ có 5 con sóng mô hình trong nó. Mặt khác một con sóng điều chỉnh (Corrective Wave) sẽ đi theo hướng ngược lại với con sóng trước đó. Ở xu hướng nhỏ hơn với mỗi con sóng kích thích (Impulse wave) sẽ một lần nữa có thể tìm thấy 5 con sóng nhỏ.

Những mẫu hình Elliott Wave như vậy có thể lặp lại vô thời hạn ở các quy mô lớn nhỏ khác nhau. Elliott đã phát hiện ra cấu trúc lặp lại của thị trường vào năm 1930, tuy nhiên đến tận nhiều thập kỷ sau thì nó mới được chứng minh bằng công thức toán học.

Trong thị trường tài chính, chúng ta biết rằng những gì đi lên thì phải đi xuống, khi một biến động giá dù lên hay xuống thì chúng hầu như đều xuất hiện các động thái hồi phục trở lại. Hành động giá được chia thành các xu hướng và điều chỉnh. Xu hướng cho thấy hướng chính của giá, còn điều chỉnh thì đi ngược lại với xu hướng một đoạn và thường quay đầu trở lại và đi theo xu hướng.

Giải thích phương pháp Elliott Wave

Lý thuyết sóng phương pháp Elliott Wave được giải thích như sau:

  • Có 5 con sóng di chuyển theo xu hướng chỉnh và theo sau là ba con sóng điều chỉnh. Di chuyển 5-3 này có thể là bước đệm để tạo thành một mô hình sóng Elliott Wave mới
  • Mẫu hình 5-3 này thường không đổi, mặc dù đôi khi thời gian tạo thành của mỗi con sóng có thể khác nhau

Chúng ta hãy cùng xem mô hình sóng Elliott Wave dưới đây về mẫu hình 5 con sóng theo xu hướng và 3 con sóng điều chỉnh được đánh lần lượt là 1,2,3,4,5 và A,B,C.

Sóng 1,2,3,4,5 có thể gọi là con sóng kích thích (Impulse Wave) và sóng A,B,C có thể gọi là con sóng điều chỉnh (A,B,C). Sóng kích thích lần lượt với sóng 1 với độ mạnh cao nhất và có thể giảm đối với những con sóng tiếp theo.

Sóng kích thích thường có 3 biến động giá theo xu hướng và 2 con sóng đi ngược lại tạo đà để lên các mức cao tiếp theo. Sóng điều chỉnh bao gồm 3 con sóng A,B,C với con sóng A và C đi cùng xu hướng, con sóng B thì đi ngược lại với con sóng A và C. Những con sóng điều chỉnh thường có cấu trúc như sau:

Lưu ý rằng trong hình này, sóng A và C di chuyển theo hướng của xu hướng với mức độ giảm lớn vì thường bao gồm nhiều con sóng hơn sóng B. Ngược lại, sóng B di chuyển ngược lại với sóng A và C nhưng với mức độ thấp hơn nên thường các con sóng ngắn và ít hơn.

Khi sóng kích thích (Impulse Wave) được hình thành thì theo phương pháp Elliott Wave nhưng con sóng theo rất có thể sẽ hình thành các con sóng điều chỉnh (Corrective Wave).

Như bạn có thể thấy từ các mẫu hình sóng ở hình phía trên, 5 sóng kích thích không phải lúc nào cũng tăng và 3 sóng điều chỉnh không phải lúc nào cũng giảm.

Cấp độ sóng (Wave Degree)

Elliott xác định 9 độ sóng mà ông dán nhãn từ lớn đến nhỏ như sau:

  • Đại siêu chu kỳ (Nhiều thế kỷ)
  • Siêu chu kỳ (Nhiều thập kỷ)
  • Chu kỳ (Một đến vài năm)
  • Sơ cấp (Vài tháng đến vài năm)
  • Trung cấp (vài tuần đến vài tháng)
  • Nhỏ (Vài tuần)
  • Khá nhỏ (Vài ngày)
  • Rất nhỏ (Vài giờ)
  • Rất rất nhỏ (Vài phút)

Vì sóng Elliott là các mẫu hình lặp lại, vì thế qua thời gian các con sóng nhỏ sẽ góp phần tạo nên một con sóng lớn hơn với các cấp độ sóng đã được liệt kê ở trên.

Để giao dịch theo mô hình sóng Elliott các nhà giao dịch có thể xác định các sóng kích thích (Impulse wave) đi lên và mua vào. Sau đó khi thị trường hình thành đủ 5 sóng họ có thể thoát ra và đợi các con sóng hồi.

Lý thuyết Elliott Wave

Vào những năm 1970, nguyên lý sóng Elliott đã trở nên phổ biến nhờ A.J Frost và Robert Prechter thông qua cuốn sách huyền thoại “Elliott Wave Principle: Key to market behavior”. Thông qua cuốn sách tác giả đã đưa ra khuyến nghị thị trường chứng khoán sẽ tăng giá vào những năm 1980 và đưa ra khuyến nghị bán vài ngày trước cuộc khủng hoảng năm 1987.

Điểm mấu chốt

Elliott Wave nhấn mạnh rằng thị trường đơn giản là các mẫu hình được lặp đi lặp lại từ tâm lý con người được lặp đi lặp lại trước tình hình của thị trường tài chính. Việc sử dụng sóng Elliott Wave để giao dịch không có nghĩa rằng bạn dự đoán được tương lai nhưng đây là phương pháp vô cùng hiệu quả để hiểu về thị trường và nâng cao xác suất thắng. Dù thế nào đi chăng nữa thì phương pháp Elliott Wave cũng có những ưu và nhược điểm riêng, điều quan trọng là bạn cần phải nắm bắt và vận dụng phương pháp một cách mềm dẻo trước tình hình thực tế của những thị trường khác nhau.

Một trong những điểm yếu của nhà giao dịch mới bắt đầu là họ thường đổ lỗi cho thị trường hơn là đổ lỗi cho những điểm yếu trong lý thuyết họ sử dụng. Để giao dịch thành công bạn cần có thời gian vận dụng và khắc phục các điểm yếu của phương pháp. Tuy bạn không thể có một phương pháp tỷ lệ thắng 100% nhưng bạn hoàn toàn có thể có một phương pháp có lợi nhuận. Vì thế hãy luôn học hỏi, rèn luyện để trở thành một nhà giao dịch tài chính thành công.

Cám ơn bạn đã theo dõi bài viết, mọi thắc bạn có thể để lại tại comment bên dưới.

Tổng hợp bởi Kienthucforex

Theo [Investopedia]

 

Comments

comments

1 / Nguyên TGĐ công ty cổ phần Nguyễn Kim – Phạm Nhật Vinh là ai?

Cơ quan cảnh sát khảo sát Công an Thành Phố Hồ Chí Minh vừa hoàn thành tóm lại khảo sát vụ tham ô and vi phạm luật pháp về cai quản, sử dụng gia sản quốc gia gây thất thoát xa hoa tại C.ty cổ phần cách tân và phát triển Nam TP sài gòn (SADECO).Nguyên tổng giám đốc C.ty Nguyễn Kim Nguyễn Nhật Vinh - Ảnh: Dân tríKèm với toàn thể giấy tờ, cơ quan điều tra chuyển Viện Kiểm sát cùng cấp đề xuất truy vấn tố Tề Trí Dũng (cựu tổng giám đốc công ty IPC kiêm quản trị hội đồng quản trị công ty SADECO) and biển Thị Thanh Phúc (cựu TGĐ công ty SADECO) về tội biển thủ gia tài hơn 1,7 tỷ VNĐ & vi phạm điều khoản về làm chủ, sử dụng gia sản quốc gia gây thất thoát hoang phí.chi tiết là hành động sử dụng...

2 / Thẻ phụ Sacombank là gì? Cách mở thẻ phụ Sacombank như thế nào?

Thẻ chính và thẻ phụ Sacombank khác gì nhau? Thẻ phụ Sacombank cũng là sản phẩm thẻ tín dụng Sacombank được mở dựa trên chủ thẻ chính. Thẻ phụ giúp cho khách hàng mở rộng tiện ích sử dụng của của thẻ tín dụng Sacombank tới các người thân. Mỗi thẻ chính được cấp tối đa 02 thẻ phụ và chủ thẻ phụ không cần chứng minh thu nhập. Hạn mức tín dụng của thẻ phụ Sacombank được phép dùng chung với thẻ chính và do chủ thẻ chính quy định. Mọi giao dịch của thẻ phụ sẽ được ghi nhận trong bản sao kê hàng tháng của thẻ chính và do chủ thẻ chính thanh toán. Thẻ phụ tín dụng Sacombank khác với thẻ chính là khi mở thẻ không cần chứng minh thu nhập, hạn mức tín dụng được cấp sẽ thấp...

3 / Thông tin chi tiết về thẻ tin dụng VPBank và cách mở thẻ chính và thẻ phụ VPBank

Thẻ chính và thẻ phụ VPBank khác gì nhau?Thẻ phụ VPBank là chỉ thẻ nguồn đầu tư phụ được tách ra từ thẻ nguồn vốn vay chính và dùng chung hạn mức nguồn đầu tư có thẻ chính. Thẻ phụ được phát hành sau thẻ chính, và chịu chi phối bởi thẻ chính.Mở thẻ nguồn đầu tư phụ sở hữu tức là thêm số lượng người được dùng hạn mức nguồn hỗ trợ của thẻ chính, thay vì chỉ sở hữu chủ thẻ chính được sử dụng thì sẽ có thêm người thân của chủ thẻ chính được tiêu dùng. Mọi đàm phán của chủ thẻ phụ đều tính vào sao kê của chủ thẻ chính và do chủ thẻ chính trả tiền dư nợ.Phí thường niên của thẻ phụ được tính phí riêng tách biệt so có thẻ chính, bình thường mức phí...

4 / Làm thể nào để mua hàng trả góp qua thẻ Timo? Cách trả góp qua thẻ Master card Timo

Thẻ tín dụng Timo trả góp là như thế nào?Thẻ nguồn đầu tư Timo trả góp là chỉ việc quý khách mang thể dùng thẻ trả tiền hàng hoá, nhà sản xuất qua thẻ. Số tiền đã thanh toán sẽ được chia thành các khoản trả góp đều nhau trong nhiều tháng, được liệt kê cộng sở hữu các đàm phán tiêu xài bằng thẻ vào bảng sao kê hàng tháng.quý khách tham dự chương trình trả góp linh động qua thẻ Timo Mastercard® thừa hưởng nhiều ích lợi thiết thực như:Giúp bạn thả phanh có các kế hoạch ăn tiêu, thuận tiện mang mọi thứ mình muốn dù chưa có đủ tiền. Giảm đi đáng nói áp lực tài chính lúc tậu sắm một món đồ giá trị to hơn số tiền với sẵn.Bất kì ...

5 / Momo có liên kết với thẻ Timo được không? Cách liên kết thẻ Timo với Momo

Thẻ Timo sở hữu liên kết Momo được không?Thẻ Timo là thẻ thanh toán do ngân hàng số Timo liên kết sở hữu những ngân hàng đối tác phát hành cho các người mua của Timo sử dụng. Ngày nay Timo phát hành hai sản phẩm thẻ là thẻ Timo nội địa và thẻ Timo Mastercard.Thẻ Timo MastercardMomo hiện tại hài hòa sở hữu nhiều nhà băng đối tác và thẻ của những nhà băng này đều sở hữu thể kết liên có Momo tiêu dùng để thanh toán , thực hiện những thương lượng nguồn vốn chóng vánh và tiện lợi .Thẻ Timo do Timo hài hòa với nhà băng VPBank và trong khoảng tháng 9/2020 Timo hài hòa với ngân hàng Bản Việt (Viet Capital Bank) phát hành, những các bạn dùng thẻ Timo được...

Shares